PHẦN BA
BÍ TÍCH THÁNH THỂ, MẦU NHIỆM ĐỂ SỐNG
“Như chúa Cha là Đấng hằng sống đă sai tôi, và tôi sống nhờ Chúa Cha thế
nào, th́ kẻ ăn tôi, cũng sẽ nhờ tôi mà được sống như vậy” (Ga 6, 57)
Mô thức Thánh Thể của đời sống Kitô
Sự thờ phượng tinh thần – logiké latreía (Rm 12, 1)
70. Chúa Giêsu, Đấng đă trở nên cho chúng ta lương thực sự thật và t́nh yêu,
nói về ân huệ sự sống của Người và bảo đảm với chúng ta rằng “ai ăn bánh này
sẽ được sống muôn đời” (Ga 6, 51). “Sư sống vĩnh cửu” này trong chúng ta bắt
đầu ngay từ bây giờ, nhờ sự biến đổi được thực hiện trong chúng ta nhờ hồng
ân Thánh Thể: “Kẻ ăn tôi sẽ nhờ tôi mà được sống”
(Ga 6, 57). Những lời Chúa
Giêsu nói giúp chúng ta hiểu rơ mầu nhiệm “để tin” và “để cử hành” chứa đựng
một sức mạnh nội tại làm cho nó trở thành nguyên lí của sự sống mới trong
chúng ta và thành mô thức đời sống Kitô của chúng ta. Khi rước ḿnh và máu
Chúa Giêsu Kitô, chúng ta trở nên những người thông dự vào sự sống thần
linh, mỗi ngày mỗi trưởng thanh và ư thức hơn. Cũng tại đây, chúng ta có thể
áp dụng lời của Thánh Augustinô, trong sách “Tự thuật” của ngài về Logos
trường cửu như lương thực cho linh hồn chúng ta. Khi nhấn mạnh bản chất mầu
nhiệm của lương thực này, Thánh Augustinô tưởng tượng Chúa đang nói với
ngài: “Cha là lương thực của những bậc siêu phàm; con cũng trở nên siêu phàm
khi con ăn cha, con sẽ không biến đổi cha ở trong con như lương thực của xác
thân, chính ở trong con mà con sẽ được biến đổi trong cha.” (198)
Không phải
lương thực thánh Thể được biến đổi thành chúng ta, nhưng chính chúng ta được
biến đổi một cách mầu nhiệm nhờ Thánh Thể. Chúa Kitô dưỡng nuôi chúng ta
bằng cách kết liên chúng ta với Người;
“Người lôi kéo chúng ta đến với
Người” (199)
Ở đây cử hành Thánh Thể xuất hiện như nguồn mạch và đỉnh cao của đời sống
Giáo Hội trong tất cả sức mạnh của nó, bởi v́ nó đồng thời vừa là khởi điểm
và là sự hoàn tất của việc thờ phượng mới và dứt khoát, logiké latreía.
(200) Lời nhắc nhở của Thánh Phaolô cho dân thành Rôma về vấn đề này là một
sự diễn tả cụ thể cách thế Bí tích Thánh Thể làm cho toàn bộ đời sống chúng
ta trở nên sự thờ phượng làm đẹp ḷng Thiên Chúa: “Thưa anh em, v́ Thiên
Chúa thương xót chúng ta, tôi khuyên nhủ anh em hăy hiến dâng thân ḿnh làm
của lễ sống động, thánh thiện và đẹp ḷng Thiên Chúa, đó là cách thức xứng
hợp để anh em thờ phượng Người”
(Rm 12, 1). Qua những lời này sự thờ phượng
mới xuất hiện như một sự tự hiến trọn vẹn được thực hiện trong sự hiệp thông
với toàn thể Giáo Hội. Lời kêu nài của vị Tông Đồ về việc hiến dâng thân
ḿnh nhấn mạnh đến tính chất cụ thể việc thờ phượng của con người, thật sự
không có ǵ là xa rời. Về vấn đề này, vị Giám Mục thành Hippone c̣n khuyến
giục chúng ta rằng “Hiến lễ của chúng ta, những Kitô hữu, tuy nhiều, nhưng
chúng ta chỉ là một thân ḿnh trong Chúa Kitô. Giáo Hội cử hành mầu nhiệm
này trong Bí tích của bàn thờ, như các tín hữu nhận biết, và Giáo Hội cho họ
thấy rơ rằng, qua những ǵ được dâng hiến, đó là chính Giáo Hội được hiến
dâng.”(201) Thật vây, tín điều Công Giáo xác quyết rằng Bí tích Thánh Thể,
hiến lễ của Chúa Kitô, cũng chính là hiến lễ của Giáo Hội, và của mọi tín
hữu. (202) Sự nhấn mạnh đến hiến lễ- “được thánh hiến”- diễn tả tất cả chiều
sâu hiện sinh bao hàm trong sự biến đổi thực tại nhân sinh mà Chúa Kitô nhận
lấy (x. Pl 3, 12)
Hiệu quả bao trùm của sự thờ phượng Thánh Thể
71. Sự thờ phượng mới của Kitô giáo bao quát và biến đổi mọi khía cạnh của
đời sống: “Dù ăn hay uống, hay làm bất cứ việc ǵ, anh em hăy làm tất cả để
tôn vinh Chúa” (1Cr 10, 31). Trong mọi hoạt động của ḿnh, người Kitô hữu
được mời gọi hiến dâng lên Thiên Chúa sự thờ phượng đích thực. Chính tại đó,
bản tính mầu nhiệm Thánh Thể của đời sống Kitô bắt đầu h́nh thành. Thánh
Thể, do bởi nó bao trùm cuộc sống cụ thể đời thường của tín hữu có thể tạo
nên một sự biến đổi tuần tự từng ngày cho tất cả những người được mời gọi
nhờ ơn thánh để phản chiếu h́nh ảnh của Con Thiên Chúa (x. Rm 8, 29). Không
có ǵ thật sự thuộc về con người- tư tưởng và t́nh cảm, lời nói và hành
động- lại không t́m thấy trong Bí tích Thánh Thể h́nh thái thích hợp để sống
một cách tràn đầy. Ở đây chúng ta có thể nhận thấy trọn vẹn giá trị nhân
linh của tính mới mẻ triệt để do Chúa Kitô mang đến trong Bí tích Thánh Thể:
sự thờ phượng Thiên Chúa trong đời sống chúng ta không được giới hạn vào
những ǵ riêng tư và cá nhân, nhưng do bản tính của nó phải thấm nhập vào
mọi khía cạnh của đời sống chúng ta. Như thế, sự thờ phượng làm đẹp ḷng
Thiên Chúa trở thành cách thế mới để sống toàn bộ cuộc sống chúng ta, mỗi
giờ phút trong cuộc sống đó được nâng lên, bởi v́ nó được sống như một phần
của một cuộc tương quan với Chúa Kitô như một hiến lễ dâng lên Thiên Chúa.
Vinh quang Thiên Chúa là con người sống (x. 1Cr 10, 31). Và sự sống của con
người là được nh́n thấy Thiên Chúa. (203)
“Iuxta dominicam viventes” – sống theo Ngày của Chúa
72. Ngay từ buổi đàu các Kitô hữu đă nhận thức rơ tính mới mẻ triệt để mà Bí
tích Thánh Thể đem lại cho đời sống con người.
Người tín hữu nhận ngay ra
ảnh hưởng sâu đậm của việc cử hành Thánh Thể trên lối sống của họ. Thánh
Ignatio thành Atiôkia đă diễn tả sự thật đó khi ngài gọi các Kitô hữu là
“những người đă đạt được niềm hi vọng mới,” và ngài đă nói về họ như “những
người sống theo Ngày của Chúa” (Iuxta dominicam viventes). (204) Câu nói của
vị Đại Thánh Tử Đạo thành Antiôkia nêu bật tương quan giữa thực tại của Bí
tích Thánh Thể và đời sống thường ngày của người Kitô hữu. Sự quy tụ đă
thành thói quen của người Kitô hữu vào ngày thứ nhất sau ngày Sabát để cử
hành sự phục sinh của Chúa Kitô- theo tường thuật của Thánh Justinô Tử Đạo
(205)- cũng xác định thể thức của một đời sống được đổi mới nhờ gặp gỡ Chúa
Kitô. Câu nói của Thánh Ignatiô –
“sống theo Ngày của Chúa”- ngày thánh này
trở thành kiểu mẫu cho những ngày khác trong tuần. Thật vậy, ngày đó không
được định nghĩa chỉ bởi sự tạm ngừng các sinh hoạt hằng ngày, một thứ chèn
vào giữa nhịp điệu thường ngày. Các Kitô hữu đă luôn cảm nhận ngày này như
ngày thứ nhất trong tuần, bởi v́ ngày này tưởng nhớ tính mới mẻ triệt để do
Chúa Kitô mang đến. Do đó, chủ nhật là ngày mà các Kitô hữu nh́n nhận lại mô
thức Thánh Thể mà cuộc sống của họ đă nhận lấy. “Sống theo Ngày của Chúa”
nghĩa là sống một cách ư thức về sự giải phóng mà Chúa Kitô mang đến và làm
cho cuộc sống chúng ta trở nên lễ hiến dâng không ngừng dâng lên Thiên Chúa,
để vinh quang của Người được mặc khải trọn vẹn cho toàn thể nhân loại qua
một đời sống được hoàn toàn đổi mới.
Sống luật buộc ngày Chúa Nhật
73. Ư thức nguyên lí mới về sự sống mà Bí tích Thánh Thể đem lại cho các
Kitô hữu, các Nghị Phụ tái khẳng định tầm quan trọng của luật buộc ngày Chúa
Nhật cho mọi tín hữu, coi đó như nguồn gốc của sự tự do đích thực giúp họ
sống mỗi ngày theo những ǵ họ đă cử hành trong “Ngày của Chúa.”
Đời sống
đức tin bị lâm nguy khi chúng ta để mất ḷng ước ao tham dự cử hành Bí tích
Thánh Thể và cuộc tưởng niệm chiến thắng vượt qua. Tham dự cộng đoàn phụng
vụ ngày Chúa Nhật cùng với anh chị em chúng ta, mà với họ chúng ta họp thành
một thân thể trong Chúa Giêsu Kitô, được đ̣i hỏi bởi lương tâm Kitô hữu của
chúng ta, đồng thời việc tham dự ấy cũng h́nh thành lương tâm Kitô. Đánh mất
cảm thức về ngày Chúa Nhật như Ngày của Chúa, một ngày được thánh hoá, là
triệu chứng của sự đánh mất cảm thức đích thực về tự do của người Kitô hữu,
sự tự do được làm con Thiên Chúa. (206) Ở đây một số nhận định của vị tiền
nhiệm đáng kính của tôi là
Đức Gioan Phaolô II trong Tông Thư Dies Domini
(207) vẫn c̣n giá trị quư báu. Nói đến những chiều kích khác nhau của việc
cử hành ngày Chúa Nhật, ngài nói rằng đó là Ngày của Chúa (Dies Domini) liên
quan đến công tŕnh sáng tạo, Dies Domini (Ngày của Chúa) như ngày của công
tŕnh sáng tạo mới và của ân huệ của Chúa Thánh Thần, Dies Ecclesiae (Ngày
của Giáo Hội) như là ngày mà cộng đoàn Kitô hữu họp nhau để cử hành, và Dies
hominis (Ngày của con người) như là ngày của niềm vui, của sự nghỉ ngơi và
bác ái.
Như thế, Chúa Nhật xuất hiện như ngày thánh nguyên thuỷ khi tất cả những tín
hữu, dù bất cứ ở đâu đều có thể trở thành những người loan báo và ǵn gữ ư
nghĩa đích thực của thời gian. Ngày đó khơi lên ư nghĩa Kitô giáo về sự sống
cũng như cách thế mới để trải nghiệm thời gian, những tương quan, lao động,
sự sống và sự chết. Do vậy, vào Ngày của Chúa, thật thích hợp để các cộng
đoàn Giáo Hội tổ chức, trong Thánh Lễ Chúa Nhật, những sinh hoạt của Cộng
đoàn Kitô giáo: gặp gỡ thân t́nh, những chương tŕnh giáo dục đức tin cho
thiếu nhi, cho bạn trẻ và người lớn, hành hương, công việc bác ái, và những
giờ cầu nguyện. V́ những giá trị quan trọng như thế- dù vẫn biết rằng buổi
chiều ngày Thứ Bảy, bắt đầu Kinh Chiều, đă thuộc về Chúa Nhật và luật buộc
ngày Chúa Nhật có thể được thực hiện- th́
chúng ta cần nhớ rằng chính ngày
Chúa Nhật phải được thánh hoá để nó không kết thúc như một ngày “vắng bóng
Thiên Chúa.” (208)
Ư nghĩa của sự nghỉ ngơi và lao động
74. Sau cùng, thật là điều khẩn thiết trong thời đại hôm nay khi nhắc nhớ
rằng ngày của Chúa cũng là một ngày nghỉ ngơi, tách khỏi công việc. Chúng ta
tha thiết hi vọng rằng điều đó cũng sẽ được xă hội dân sự nh́n nhận, để mỗi
người có thể tự do tạm ngắt khỏi công việc mà không bị phạt. Quả thật, các
Kitô hữu, khi đối chiếu với ư nghĩa ngày Sabát trong truyền thống Do Thái,
đă luôn coi Ngày của Chúa như một ngày nghỉ ngơi, thoát khỏi công việc
thường ngày. Đây là điều thật có ư nghĩa v́ nó tương đối hoá lao động và
hướng nó về chính con người: lao động v́ con người chứ không phải con người
v́ lao động. Thật dễ nhận thấy điều này bảo vệ mọi người như thế nào, khi
giải thoát họ t́nh trạng có thể sa vào một h́nh thái nô lệ. Như tôi đă có
dịp đề cập, “lao động rất quan trọng hoàn thành con người cũng như để phát
triển xă hội. Như thế, lao động phải luôn được tổ chức và thực hiện trong sự
tôn trọng đầy đủ phẩm giá con người và phải luôn luôn phục vụ thiện ích
chung. Đồng thời con người dứt khoát không để cho ḿnh bị nô lệ bởi lao động
hoặc thần tượng hoá nó, cho như là t́m thấy ở đó ư nghĩa quyết định và tối
hậu của cuộc đời.” (209)
Chính trong ngày thánh hiến cho Thiên Chúa mà con
người hiểu ra ư nghĩa cuộc đời cũng như công việc của họ. (210)
Những cộng đoàn cử hành ngày Chúa Nhật thiếu vắng linh mục
75. Việc khám phá thêm ư nghĩa của việc cử hành ngày Chúa Nhật đối với đời
sống của các Kitô hữu cũng dẫn đến việc nh́n nhận vấn đề của những cộng đồng
Kitô hữu thiếu linh mục, do đó không thể cử hành Thánh Lễ vào Ngày của Chúa.
Về vấn đề này phải nói rằng hiện nay có rất nhiều hoàn cảnh khác biệt nhau.
Trước tiên Thượng Hội Đồng Gíam Mục nhắn nhủ rằng các tín hữu phải đến một
trong các nhà thờ của Giáo Phận ḿnh, nơi chắc chắn có một linh mục, cho dù
điều này đ̣i hỏi một sự hi sinh nào đó.
(211) Khi v́ khoảng cách xa xôi mà
thật sự không thể tham dự Bí tích Thánh Thể Ngày Chúa Nhật th́ việc quan
trọng c̣n lại là các cộng đồng Kitô hữu phải họp nhau để ca tụng Chúa và
tưởng niệm Ngày được dành riêng cho Người. Tuy nhiên, điều này phải được kèm
theo sự chỉ dẫn thích đáng về sự khác biệt giữa Thánh Lễ và Cộng Đoàn họp
nhau Ngày Chúa Nhật khi thiếu vắng một linh mục.
Sự chăm sóc mục vụ của Giáo
Hội phải được nói đến trong trường hợp này, là duy tŕ cử hành phụng vụ Lời
Chúa, được hướng dẫn bởi một phó tế hay một vị lănh đạo cộng đoàn mà tác vụ
này được năng quyền chính thức uỷ nhiệm, và được thi hành theo một nghi thức
riêng do các Hội Đồng Giám Mục soạn thảo và chuẩn nhận cho mục đích đó.
(212) Tôi lặp lại rằng chỉ các vị Thường Quyền mới được cho phép việc trao
ḿnh Chúa trong những buổi phụng vụ như thế, trong khi cẩn thận cứu xét sự
cần thiết phải chọn lựa như thế nào
đó. Hơn nữa, cần phải chắc chắn rằng
những cộng đoàn này không gây ra sự hiểu lầm về vai tṛ thiết yếu của linh
mục cũng như các bí tích trong đời sống Giáo Hội. Tầm quan trọng của vai tṛ
người giáo dân rất đáng cám ơn v́ ḷng quảng đại phục vụ các cộng đoàn của
họ, nhưng không bao giờ được che khuất sứ mệnh thiết yếu của linh mục trong
đời sống của Giáo Hội. (213)
Bởi đó cần phải quan tâm bảo đảm rằng những
cộng đoàn thiếu vắng linh mục như thế không gây ra những quan điểm giáo hội
học không phù hợp với sự thật Tin Mừng và truyền thống Giáo Hội. Đúng hơn,
họ hăy dành riêng những giờ cầu nguyện với Chúa, xin Người gửi các linh mục
thánh thiện theo ḷng Người thương xót. Về điểm này, thật là xúc động khi
đọc những lời Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trong Thư gửi các Linh mục của
ngài vào Thứ Năm Tuần Thánh năm 1979, nhắc đến những nơi mà các tín hữu, do
bởi chế đọ độc tài, không có linh mục, đă gặp nhau trong một nhà thờ hay một
pḥng thánh, đặt trên bàn thờ một dây các phép mà họ c̣n giữ được, rồi cùng
đọc kinh phụng vụ Thánh Thể, dừng lại trong thinh lặng “ở chỗ liên quan đến
sự biến thể” như một dấu chỉ “họ tha thiết ước ao chừng nào được nghe những
lời mà chỉ môi miệng linh mục mới có thể đọc lên một cách thành sự.” (214)
Nhớ măi điều này, cũng như xét đến những lợi ích vô song phát sinh từ việc
cử hành Bí tích thánh Thể, tôi mong muốn tất cả các linh mục hăy sẵn ḷng và
hết sức thường xuyên có thể thăm viếng các cộng đoàn đă được trao cho các
ngài chăm sóc, kẻo họ phải chờ đợi quá lâu mà không được đón nhận Bí tích
t́nh yêu.
Một mô thức Thánh Thể của đời sống Kitô, thuộc về Giáo Hội
76. Sự quan trọng của Chúa Nhật như Ngày của Giáo Hội (Dies Ecclesiae) đưa
chúng ta trở lại với tương quan nội tại giữa sự chiến thắng của Chúa Giêsu
trên tội lỗi và sự chết, và địa vị chúng ta thuộc về thân thể Giáo Hội của
Người. Vào Ngày của Chúa, mỗi Kitô hữu lại khám phá thấy chiều kích cộng
đoàn của đời sống họ như một đời sống đă được cứu chuộc. Tham dự vào phụng
vụ và rước Ḿnh và Máu Chúa Kitô tăng cường và đào sâu địa vị của chúng ta
thuộc về Đấng đă chết cho chúng ta (x. 1 Cr 6, 19; 7, 23).
Thật thế, kẻ ăn
Chúa Kitô phải sống cho Người. Mầu nhiệm Thánh Thể giúp chúng ta hiểu rơ ư
nghĩa của sự hiệp thông các thánh (communio sanctorum). Hiệp thông bao giờ
cũng mang cả hai nghĩa, chiều dọc và chiều ngang, không tách biệt: hiệp
thông với Chúa và hiệp thông với anh chị em chúng ta. Cả hai chiều kích này
hội tụ một cách mầu nhiệm trong hồng ân Thánh Thể. “Ở đâu mất sự hiệp thông
với Chúa, nghĩa là hiệp thông với Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, th́
nguồn gốc và nguồn mạch cho sự hiệp thông của chúng ta với người khác cũng
tiêu tan. Và ở đâu chúng ta không sống hiệp thông với nhau, th́ sự hiệp
thông với Thiên Chúa Ba Ngôi cũng mất sinh khí và vô thực.” (215) Được kêu
gọi để trở thành phần tử của Chúa Kitô và phần tử của nhau (x. 1 Cr 12, 27),
chúng ta hợp thành một thực thể được xây dựng một cách huyền nhiệm trên Bí
tích Thánh Tẩy và được nuôi dưỡng bởi Bí tích Thánh Thể, một thực thể đ̣i
phải có sự thể hiện hữu h́nh trong đời sống cộng đoàn của chúng ta.
Mô thức Thánh Thể của đời sống Kitô chắc chắn là h́nh thức giáo hội và cộng
đoàn. Qua Giáo phận và giáo xứ, là những cơ cấu căn bản của Giáo Hội trong
một lănh thổ riêng, mỗi người tín hữu cảm nhận một cách cụ thể được là thành
viên của Thân Ḿnh Chúa Kitô nghĩa là ǵ. Những hội đoàn, những phong trào
Giáo Hội và những cộng đồng mới – với những đặc sủng đầy sức sống do Chúa
Thánh Thần ban xuống cho nhu cầu của thời đại chúng ta- cùng với các Ḍng
Tu, đều có trách nhiệm riêng để giúp cho người tín hữu ư thức rằng họ thuộc
về Chúa (x. Rm 14, 8). Phong trào tục hoá, mà đặc tính của nó là nhấn mạnh
vào chủ thuyết cá nhân, đă gây ra những hệ quả tiêu cực nhất trên các cá
nhân, làm cho họ sống tách biệt v́ mất ư thức thuộc về. Kitô giáo, ngay từ
lúc khai nguyên, luôn mang ư nghĩa của tính đồng liêu, một sự kết nối các
tương quan thường xuyên được củng cố qua việc lắng nghe Lời Chúa và tham dự
vào Bí tích thánh Thể, và được thêm sức sống nhờ Chúa Thánh Thần.
Linh đạo và văn hoá Thánh Thể
77. Một cách thật có ư nghĩa,
các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng Gíam Mục phát
biểu rằng “người tín hữu Kitô cần hiểu rơ hơn tương quan giữa Bí tích Thánh
Thể và cuộc sống thường ngày của họ. Linh đạo Thánh Thể không chỉ là tham dự
Thánh Lễ và viếng Thánh Thể. Nó bao trùm toàn bộ đời sống.” (216) Nhận định
này thật là thấu suốt đối với hoàn cảnh của chúng ta hôm nay.
Cần phải nhận
thức rằng một trong những ảnh hưởng nghiêm trọng nhất của sự tục hoá vừa đề
cập đến là nó giới hạn đức tin Kitô giáo vào bờ ŕa của cuộc sống như thể
không liên quan ǵ đến cuộc sống cụ thể hằng ngày. Sự vô dụng của một lối
sống “như thể Thiên Chúa không hiện hữu” ngày nay đă quá hiển nhiên đối với
chúng ta. Ngày hôm nay cần phải nh́n nhận lại rằng Chúa Giêsu Kitô không chỉ
là sự xác tín cá nhân hay một ư tưởng trừu tượng, nhưng là một người thực,
mà việc Người trở nên thành phần của lịch sử nhân loại có khả năng đổi mới
mọi người. Bởi đó, Bí tích Thánh Thể, nguồn mạch và đỉnh cao của đời sống và
sứ mệnh của Giáo Hội phải được diễn giải trong một linh đạo, thành đời sống
sống “theo Thánh Thần” (Rm 8, 4 tt; x. Gl 5, 16, 25). Thât là ư nghĩa khi
Thánh Phaolô, trong một đoạn của Thư gửi Tín Hữu Rôma mời gọi các thính giả
của ngài sống sự thờ phượng mới theo tinh thần, ngài cũng nói đến sự cần
thiết phải thay đổi cách sống và cách suy nghĩ của họ:
“Anh em đừng rập theo
đời này, nhưng hăy cải biến con người anh em bằng cách đổi mới tâm thần anh
em, hầu có thể nhận ra đâu là ư Thiên Chúa: cái ǵ là tốt, cái ǵ đẹp ḷng
Chúa, cái ǵ hoàn hảo” (12, 2). Bằng cách đó, vị Tông Đồ Dân Ngoại nhấn mạnh
đến sự liên hệ giữa sự thờ phượng đích thật theo tinh thần và sự cần thiết
phải có một cách thế mới để thấu hiểu và sống cuộc sống của ḿnh. Một phần
hoàn chỉnh của mô thức Thánh Thể của đời sống Kitô là một cách thế suy nghĩ
mới: “để chúng ta sẽ không c̣n là những trẻ nhỏ bị sóng đánh trôi giạt theo
mọi chiều gió đạo lí” (Ep 4, 14).
Bí tích Thánh Thể và sự rao giảng Tin Mừng cho các nền văn hoá
78. Từ những ǵ đă được nói đến trên đây th́ hiển nhiên là mầu nhiệm Thánh
Thể đặt chúng ta vào cuộc đối thoại với những nền văn hoá khác nhau, nhưng
cũng theo một nghĩa nào đó, thách đố chúng. (217) Đặc tính liên văn hoá của
sự thờ phượng mới này, logiké latreía, cần phải được nhận biết. Sự hiện diện
của Chúa Giêsu Kitô và sự tuôn đổ Chúa Thánh Thần là những biến cố có khả
năng thu hút mọi thực tại văn hoá và đưa vào đó men Tin Mừng. Tiếp theo là
chúng ta phải dấn thân xúc tiến công cuộc Tin mừng hoá các nền văn hoá, với
ư thức rằng chính Chúa Kitô là sự thật cho mọi người, và cho toàn thể lịch
sử nhân loại. Bí tích Thánh Thể trở thành một tiêu chuẩn để chúng ta đánh
giá tất cả những ǵ mà Kitô giáo gặp thấy trong những nền văn hoá khác nhau.
Trong tiến tŕnh phân định quan trọng này, chúng ta phải hiểu rơ ư nghĩa lời
thúc giục của Thánh Phaolô trong Thư Thứ Nhất gửi Tín Hữu Thessalônica,
“hăy
cân nhắc mọi sự; điều ǵ tốt th́ giữ” (5, 21).
Bí tích Thánh Thể và tín hữu giáo dân
79. Trong Chúa Kitô, Đầu của Giáo Hội là Thân Ḿnh Người, mọi Kitô hữu là
“một giống ṇi được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả, là dân thánh, dân
riêng của Thiên Chúa, để loan truyền những ḱ công của Người” (1 Pr 2, 9).
Bí tích Thánh Thể, như một mầu nhiệm để sống, được trao ban cho mỗi người
chúng ta như chúng ta đang là, làm cho cuộc sống cụ thể của chúng ta trở
thành một nơi mà hằng ngày chúng ta cảm nghiệm được tính mới mẻ triệt để của
đời sống Kitô. Hi tế Thánh Thể nuôi dưỡng và tăng cường nơi chúng ta tất cả
những ǵ chúng ta đă nhận lănh trong Bí tích Thánh Tẩy, mà qua đó chúng ta
được mời gọi nên thánh, (218) và điều này phải được thể hiện một cách trong
suốt trong những hoàn cảnh mà mỗi Kitô hữu sống cuộc sống của ḿnh. Hằng
ngày chúng ta trở nên “một sự thờ phượng đẹp ḷng Thiên Chúa” bằng cách sống
đời sống của chúng ta như một ơn gọi.
Bắt đầu từ cộng đoàn phụng vụ, chính
Bí tích Thánh Thể thúc giục chúng ta, trong cuộc sống thường ngày, làm mọi
sự v́ vinh quang Thiên Chúa.
Và bởi v́ trần thế này là “cánh đồng” (Mt 13, 38) trong đó Thiên Chúa gieo
trồng con cái Người như hạt giống tốt, là người giáo dân Kitô, qua Bí tích
Thánh Tẩy và Thêm Sức đă lănh nhận, họ được thêm sức mạnh nhờ Bí tích Thánh
Thể và được kêu gọi để sống tính mới mẻ triệt để mà Chúa Kitô mang đến, ở
bất cứ đâu họ hiện diện. (219) Họ phải vun trồng một niềm ao ước rằng Thánh
Thể phải tạo được hiệu qủa sâu xa hơn vào trong cuộc sống thường ngày của
họ, làm cho họ trở thành những chứng nhân thuyết phục trong môi trường làm
việc cũng như trong tất cả môi trường xă hội. (220) Tôi khuyến khích các gia
đ́nh hăy đặc biệt kín múc niềm cảm hứng và sức mạnh trong Bí tích này. T́nh
yêu giữa người nam và người nữ, sự rộng mở đón nhận sự sống, và việc giáo
dục con cái là những nơi chốn ưu tiên Bí tích Thánh Thể có thể tỏ lộ quyền
năng biến đổi và đem đến cho nó ư nghĩa tṛn đầy. (221)
Các mục tử của Giáo
Hội phải không ngừng đỡ nâng, hướng dẫn cũng như khích lệ các tín hữu giáo
dân sống trọn vẹn ơn gọi nên thánh của họ trong thế giới này, thế giới mà
Thiên Chúa tha thiết yêu thương đến nỗi đă sai Con của Người đến cứu chuộc
nó.
Bí tích Thánh Thể và linh đạo linh mục
80. H́nh thái Thánh Thể của đời sống Kitô được thể hiện một cách rất đặc
biệt trong chức linh mục. Linh đạo linh mục tự bản chất là Thánh Thể.
Những
hạt mầm của nền linh đạo này đă được nhận thấy rơ trong những lời mà Đức
Giám Mục nói trong phụng vụ Bí tích Truyền Chức: “Con hăy nhận lễ vật của
dân thánh mà dâng lên Thiên Chúa. Con hăy ư thức việc con làm, noi theo điều
con thực hiện, và rập đời sống con theo mầu nhiệm Thánh Giá Chúa.” (222)
Để
đem lại một mô thức Thánh Thể rơ nét hơn cho cuộc đời ḿnh, linh mục, ngay
từ những năm c̣n trong chủng viện phải xây dựng đời sống thiêng liêng của
ḿnh như một ưu tiên cao nhất. Ngài được kêu gọi để t́m kiếm Thiên Chúa một
cách liên lỉ, trong khi vẫn hằng quan tâm hướng về các anh chị em của ḿnh.
Một đời sống thiêng liêng mănh liệt sẽ giúp ngài đi vào hiệp thông sâu xa
hơn với Chúa, đồng thời giúp ngài để cho ḿnh được t́nh yêu của Thiên Chúa
chiếm hữu, hầu làm chứng cho t́nh yêu ấy qua mọi thời gian, dẫu gặp những
lúc đen tối nhất và khó khăn nhất. Trong chủ đích đó, tôi hợp với các Nghị
Phụ để nhắc nhở linh mục “cử hành Thánh Lễ mỗi ngày, dù khi không có tín hữu
tham dự.” (224) Lời nhắn nhủ này phù hợp một cách khách quan với giá trị vô
biên của mỗi cuộc cử hành Bí tích Thánh Thể, và c̣n được thôi thúc bởi hiệu
quả thiêng liêng duy nhất của Thánh Lễ.
Nếu được cử hành một cách chăm chú
và với đức tin sống động, Thánh Lễ xây dựng đời sống thiêng liêng theo nghĩa
sâu xa nhất của từ ngữ, bởi v́ Thánh Lễ nuôi dưỡng sự rập khuôn theo Chúa
Kitô của linh mục đồng thời củng cố ơn gọi của ngài.
Bí tích Thánh Thể và đời sống thánh hiến
81. Tương quan giữa Bí tích Thánh Thể với những ơn gọi khác nhau trong Giáo
Hội được nh́n thấy một cách đặc biệt sống động trong “chứng tá tiên tri của
các tu sĩ nam nữ, những người t́m thấy trong
việc cử hành Bí tích Thánh Thể
và trong việc tôn sùng Thánh Thể sức mạnh thiết yếu cho ơn gọi bước theo
Chúa Kitô một cách triệt để, vâng phục, thanh bần, và khiết tịnh.” (225) Dù
phục vụ trong nhiều lănh vực khác nhau như đào tạo nhân sự và chăm sóc người
nghèo, giáo dục và y tế, các tu sĩ nam nữ đều nhận biết rằng cứu cánh cuộc
đời họ là
“chiêm ngắm những sự thiêng liêng và kết hợp liên lỉ với Chúa
trong cầu nguyện.” (226) Sự đóng góp chủ yếu mà Giáo Hội chờ mong nơi những
tu sĩ ấy, là để hiện diện hơn là để hành động. Ở đây tôi muốn tái khẳng định
sự quan trọng của chứng tá về đức trinh khiết, đích thực liên quan đến mầu
nhiệm Thánh Thể. Ngoài việc liên hệ đến sự độc thân linh mục, mầu nhiệm
Thánh Thể cũng liên hệ một cách nội tại với đức khiết tịnh của tu sĩ, bởi v́
nó diễn tả sự dâng hiến trọn vẹn của Giáo Hội cho Chúa Kitô, Đấng mà Giáo
Hội đón nhận như Hôn Phu của ḿnh với ḷng trung tín triệt để, dạt dào.
(227) Trong Bí tích Thánh Thể, đức khiết tịnh của tu sĩ t́m được nguồn cảm
hứng cũng như dưỡng chất cho sự toàn hiến dành cho Chúa Kitô. Hơn nữa, từ Bí
tích Thánh Thể, đức khiết tịnh kín múc được ơn can đảm và sức mạnh để trở
thành dấu chỉ t́nh yêu ban không và dạt dào của Thiên Chúa dành cho nhân
loại, trong chính thời đại của chúng ta. Cuối cùng, bởi chứng tá đặc thù của
nó, đời sống thánh hiến trở thành một dấu chỉ hiển nhiên và tiên báo về
“tiệc cưới của Con Chiên” (Kh 19, 7- 9), là chung điểm của toàn bộ lịch sử
cứu chuộc. Theo nghĩa này, đức khiết tịnh hướng về chân trời cánh chung, mà
nơi đó, mỗi con người phải định hướng cho những chọn lựa và những quyết định
liên quan đến cuộc đời ḿnh.
Bí tích Thánh Thể và sự biến đổi luân lí
82. Khi khám phá thấy vẻ đẹp của mô thức Thánh Thể của đời sống Kitô, chúng
ta cũng được tiến dẫn để suy tư về năng lực luân lí do Bí tích Thánh Thể
hoạt động để nâng đỡ sự tự do đích thực của con cái Thiên Chúa. Ở đây tôi
muốn lấy lại sự thảo luận đă diễn ra trong Thượng Hội Nghị về tương quan
giữa mô thức Thánh Thể của đời sống và sự cải đổi luân lí.
Đức Giáo Hoàng
Gioan Phaolô II cho rằng đời sống luân lí “có giá trị của một ‘sự thờ phượng
thiêng liêng’ (Rm 12, 1; x. Pl 3, 3), khơi nguồn và được nuôi dưỡng bởi
nguồn suối bất tận của sự thánh thiện và vinh quang của Thiên Chúa, có sẵn
trong các Bí tích, nhất là trong Bí tích Thánh Thể: bằng cách tham dự vào
hiến tế Thập Giá, các Kitô hữu thông phần vào t́nh yêu tự hiến của Chúa
Kitô, họ được trang bị và thôi thúc để sống đức ái duy nhất đó trong tất cả
suy nghĩ và hành động của ḿnh” (228). Tắt một lời, “ chính sự ’thờ phượng’,
sự hiệp thông Thánh Thể, bao gồm một thực tại vừa được yêu và vừa có bổn
phận yêu thương tha nhân. Một Bí tích Thánh Thể mà không quy về việc thực
hành yêu thương thực tiễn thật sự chỉ là vụn vặt” (229).
Lời nhắc nhở về giá trị luân lí của sự thờ phượng trong tinh thần không được
diễn giải chỉ theo cách thức luân lí. Trên tất cả mọi sự th́ đó là một sự
khám phá đầy vui mừng về t́nh yêu đang hoạt động nơi tâm hồn những người mà
khi đón nhận ơn Chúa, đă từ bỏ chính ḿnh cho Người và t́m được tự do đích
thực. Sự biến đổi luân lí hàm ẩn trong sự thờ phượng mới do Chúa Kitô thiết
lập là một khao khát nung nấu muốn đáp lại t́nh Chúa yêu với tất cả con
người ḿnh, dù vẫn luôn ư thức về sự yếu đuối của ḿnh. Sau khi đón Chúa vào
nhà ḿnh, người thu thuế hoàn toàn được biến đổi: ông quyết định bố thí môt
nửa tài sản của ḿnh cho người nghèo và đền trả gấp bốn lần những người ông
đă tước đoạt. Sự thúc bách về luân lí xuất phát từ cuộc đón tiếp Chúa Giêsu
đi vào đời sống chúng ta là kết quả của ḷng biết ơn v́ đă cảm nghiệm được ở
gần cận Chúa Giêsu mà chúng ta chẳng bao giờ xứng đáng.
Tính công khai của Bí tích Thánh Thể
83. Ở đây thật là quan trọng để nêu ra điều mà
các Nghị Phụ đă gọi là tính
công khai của Bí tích Thánh Thể, một phẩm chất mà cuộc đời chúng ta được kêu
gọi môt cách thực sự để đảm nhận.
Sự thờ phượng đẹp ḷng Thiên Chúa chẳng
bao giờ là một chuyện riêng tư mà không tạo ra những hệ quả đối với những
tương quan của chúng ta với người khác: nó đ̣i hỏi chứng ta công khai cho
đức tin của chúng ta. Hẳn nhiên,
điều này là xác đáng cho tất cả
những người
đă được rửa tội, tuy nhiên điều này đặt ra trách nhiệm đặc biệt đối với
những người mà do vai tṛ xă hội và chính trị của họ, phải đưa ra những
quyết định nền tảng, chẳng hạn việc tôn trọng sự sống con người, phải bảo vệ
từ lúc thụ thai cho đến cái chết tự nhiên, gia đ́nh xây dựng trên hôn nhân
một người nam và một người nữ, sự tự do giáo dục con cái và việc cổ xuư
thiện ích chung trong mọi h́nh thức (230). Những giá trị này là không thể
thoả hiệp. Do đó, các chính trị gia và luật gia Công Giáo, ư thức trách
nhiệm nặng nề của ḿnh trước xă hội, phải cảm thấy bị ràng buộc, trên nền
tảng của một lương tâm đă được huấn luyện một cách chính đáng, phải đưa ra
cũng như ủng hộ những luật được phát động bởi những giá trị đặt trên bản
tính con người (231). Điều đó có liên hệ khách quan với Bí tích Thánh Thể
(x. 1 Cr 11, 27- 29). Các Đức Giám Muc
có trách nhiệm thường xuyên nhắc nhớ
các giá trị này như một phần trách nhiêm của ḿnh đối với đoàn chiên đă được
uỷ thác cho các ngài (232).
Bí tích Thánh Thể, một mầu nhiệm để loan truyền
Bí tích Thánh Thể và truyền giáo
84. Trong bài giảng dịp cử hành Thánh Thể long trọng để khai mạc sứ vụ Tông
Toà của tôi, tôi đă nói rằng “không có ǵ tốt đẹp hơn được ngạc nhiên bởi
Tin Mừng, nhờ gặp gỡ Chúa Kitô. Không có ǵ tốt đẹp hơn được biết Người cũng
như được nói cho người khác biết về t́nh bằng hữu của chúng ta với Người.”
(233) T́nh yêu chúng ta cử hành trong Bí tích không phải là một điều ǵ đó
chúng ta có thể giữ riêng cho riêng ḿnh. Bởi chính bản chất của nó, t́nh
yêu đ̣i được chia sẻ với mọi người. Điều mà thế giới cần chính là t́nh yêu
của Thiên Chúa; thế giới cần gặp Chúa Kitô và tin vào Người.
Như thế, Bí
tích Thánh Thể là nguồn mạh và đỉnh cao không chỉ cho đời sống của Giáo Hội,
nhưng c̣n cho công cuộc truyền giáo của Giáo Hội nữa: “Một Giáo Hội cử hành
Thánh Thể là một Giáo Hội truyền giáo.” (234) Chúng ta cũng phải có thể nói
với anh chị em chúng ta rằng: “Điều chúng tôi đă thấy và đă nghe chúng tôi
loan báo cho cả anh em nữa, để chính anh em cũng được hiệp thông với chúng
tôi” (1 Ga 1, 3). Thật vậy, không có ǵ tốt đẹp hơn là biết Chúa Kitô và làm
cho người khác nhận biết Người. Việc thiết lập Bí tích Thánh Thể, v́ lẽ đó,
báo trước chính con tim truyền giáo của Chúa Giêsu: Người là Đấng được Chúa
Cha sai đến để cứu chuộc trần gian
(x. Ga 3, 16- 17; Rm 8, 32). Trong Bữa
Tiệc Li, Chúa Giêsu trối lại cho các môn đệ của Người Bí tích mà Người hiện
tại hoá hiến tế của Người, để cứu chuộc tất cả chúng ta, trong sự tuân phục
ư Chúa Cha. Chúng ta không thể tiến đến bàn tiệc Thánh Thể mà không bị cuốn
lôi vào việc truyền giáo, mở đầu từ chính Trái Tim của Thiên Chúa, nhằm đến
với mọi người.
Như thế,
hoạt động truyèn giáo là một phần thiết yếu của mô
thức Thánh Thể của đời sống Kitô hữu.
Bí tích Thánh Thể và việc làm chứng
85. Sứ mệnh trước tiên và nền tảng mà chúng ta nhận được từ các mầu nhiệm
thánh chúng ta cử hành, là làm chứng bằng đời sống của chúng ta. Sự sửng sốt
mà chúng ta cảm nghiệm trước hồng ân Thiên Chúa đă ban cho chúng ta trong
Chúa Kitô tạo động lực mới cho cuộc đời chúng ta, cũng như thúc giục chúng
ta trở nên chứng nhân cho t́nh yêu của Người. Chúng ta trở nên chứng nhân
khi qua hành động, lời nói và cách sống của chúng ta, Một Người Khác được
hiện diện. Việc làm chứng có thể được diễn tả như một phương thế mà qua đó
sự thật về t́nh yêu của Thiên Chúa đến với con người trong lịch sử, mời gọi
họ tự do đón nhận tính mới mẻ triệt để. Qua việc làm chứng, chúng ta có thể
nói, Thiên Chúa để cho chính Người mở ra trước mối nguy của sự tự do của con
người. Chính Chúa Giêsu là chứng nhân trung thành và chính thực (x. Kh 1, 5;
3, 14), là Đấng đă đến để làm chứng cho sự thật (x. Ga 18, 37).
Tại đây tôi
muốn suy nghĩ về một quan niệm rất thân thương đối với các Kitô hữu thời sơ
khai, nhưng cũng nói cho chúng ta hôm nay một cách rất hùng hồn: đó là, làm
chứng đến độ hi sinh chính sự sống ḿnh, đến mức tử đạo. Trải qua lịch sử
Giáo Hội, điều này đă luôn được nh́n nhận như là đỉnh cao của sự thờ phượng
mới: “Hăy hiến dâng thân ḿnh anh em” (Rm 12, 1). Chẳng hạn, người ta có thể
suy nghĩ về tŕnh thuật cuộc tử đạo của Thánh Pôlycarpô thành Smyrna, một đồ
đệ của Thánh Gioan: tất cả bi kịch được mô tả như một buổi phụng vụ, mà
chính vị tử đạo ước muốn trở nên bánh Thánh Thể. (235) Chúng ta cũng có thể
gợi lại những h́nh ảnh của Bí tích Thánh Thể mà thánh Ignatiô thành Antiôkia
dùng để nói về sự tử đạo của chính ngài: ngài coi ḿnh như “hạt lúa ḿ của
Chúa” và ước muốn qua ơn tử đạo, được trở nên “bánh tinh tuyền của Chúa
Kitô.” (236) Kitô hữu hiến dâng sự sống ḿnh để chịu tử đạo, được hiệp thông
trọn vẹn với cuộc Vượt Qua của Chúa Giêsu Kitô và như vậy, trở nên Thánh Thể
cùng Người. Ngày hôm nay cũng thế, Giáo Hội không thiếu những vị tử đạo đă
làm chứng cao nhất cho t́nh yêu Thiên Chúa. Dù sự thử thách của ơn tử đạo
không đ̣i hỏi chúng ta, chúng ta biết rằng sự thờ phượng đẹp ḷng Thiên Chúa
buộc chúng ta chuẩn bị tâm hồn cho điều đó. (237)
Sự thờ phượng như thế vươn
đến một chứng tá sống động và thuyết phục về một đời sống Kitô kiên cường,
bất cứ đâu Chúa mời gọi chúng ta làm chứng nhân cho Người.
Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu Chuộc duy nhất
86. Nhấn mạnh đến tương quan giữa Bí tích Thánh Thể và truyền giáo cũng dẫn
đến một sự tái khám phá về nội dung căn bản của việc loan báo của chúng ta.
T́nh yêu đối với Bí tích Thánh Thể trong tâm hồn dân Kitô giáo càng nồng
nàn, họ sẽ càng nhận thức một cách rơ rệt rằng mục đích của truyền giáo là
đem Chúa Kitô đến cho người khác. Đó không phải chỉ là một lí thuyết hay một
cách sống được Chúa Kitô khơi dậy, nhưng là một ơn ban chính Người. Ai không
chia sẻ sự thật về t́nh yêu với anh chị em của ḿnh th́ chưa cho đi đủ.
Bí
tích Thánh Thể, Bí tích của ơn cứu chuộc chúng ta, chắc chắn nhắc nhở chúng
ta về tính duy nhất của Chúa Kitô và ơn cứu chuộc của Người thực hiện cho
chúng ta nhờ máu Người. Mầu nhiệm Thánh Thể, để tin và để cử hành đ̣i phải
thường xuyên dạy giáo lí cho mọi người về việc dấn thân truyền giáo mà trọng
tâm là loan báo về Chúa Giêsu như Đấng Cứu Chuộc duy nhất. (238) Điều đó sẽ
giúp chúng ta tránh được một sự hiểu biết giản lược và có tính cách thuần
tuư xă hội về việc thăng tiến con người bao hàm trong mỗi tiến tŕnh rao
giảng Tin Mừng đích thực.
Tự do thờ phượng
87. Trong tinh thần đó, tôi muốn nhắc lại những quan tâm đă được các Nghị
Phụ bày tỏ về những khó khăn nghiêm trọng đè nặng trên công cuộc truyền giáo
cho những cộng đồng Kitô giáo trong những miền mà người Kitô chỉ là thiểu số
hoặc họ không được công nhận tự do tôn giáo. (239) Chắc chắn chúng ta phải
tạ ơn Chúa v́ các Giám Mục, linh mục, tu sĩ và giáo dân hi sinh bản thân một
cách quảng đại để rao giảng Tin Mừng và thực hành đức tin cho dẫu sự sống bị
lâm nguy. Chẳng phải ít nơi trên thế giới, chỉ việc đi đến nhà thờ cũng đă
tỏ ra là một chứng tá anh hùng bởi v́ điều đó có thể dẫn tới việc bị đặt ra
ngoài ŕa hoặc bị xâm hại.
Ở đây tôi muốn tái khẳng định sự liên đới của
toàn thể Giáo Hội với những người bị khước từ tự do thờ phượng. Như chúng ta
biết, ở bất cứ đâu thiếu tự do tôn giáo th́ con người sẽ thiếu sự tự do ư
nghĩa nhất đối với mọi sự, bởi v́ chính qua đức tin mà con người bày tỏ
quyết định sâu xa nhất của ư nghĩa tối hậu về cuộc đời họ. Bởi đó, chúng ta
hăy cầu nguyện cho mọi quốc gia có tự do tôn giáo rộng răi hơn, để các Kitô
hữu cũng như những tín đồ của các tôn giáo khác, có thể tự do bày tỏ các xác
tín của họ, cả về mặt cá nhân và cộng đồng.
Bí tích Thánh Thể, một mầu nhiệm để trao cho thế giới
Thánh Thể, tấm bánh bẻ ra cho sự sống trần gian
88. “Bánh tôi sẽ ban chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống” (Ga
6, 51). Qua những lời này, Chúa mặc khải ư nghĩa đích thực của việc trao
hiến sự sống của Người cho hết mọi người. Những lời này cũng tỏ lộ ḷng
cảm thương sâu xa của Người cho mỗi con người. Các sách Tin Mừng thường nói
đến cảm xúc của Chúa Giêsu đối với con người, nhất là đối với những ai đau
khổ và tội lỗi (x. Mt 20, 34; Mc 6, 34; Lc 19 41). Qua t́nh cảm rất con
người như thế, Người tỏ bày ư muốn cứu chuộc của Thiên Chúa cho mọi người-
để họ có sự sống đích thực. Mỗi cuộc cử hành Thánh Thể hiện tại hoá một cách
bí tích ân huệ mà Chúa chịu đóng đinh thực hiện bằng sự sống của Người cho
chúng ta và cho toàn thế giới. Trong Bí tích Thánh Thể Chúa Giêsu cũng làm
cho chúng ta trở nên chứng nhân của ḷng thương xót của Thiên Chúa đối với
tất cả anh chị em chúng ta. Như thế,
mầu nhiệm Thánh Thể khơi dậy ḷng bác
ái đối với tha nhân, vốn “hệ tại chính điều này là, trong Thiên Chúa và cùng
với Thiên Chúa, tôi yêu người thân cận cả khi tôi không thích hoặc không
biết người đó. Điều này chỉ có thể xảy ra từ cuộc gặp gỡ thâm sâu với Thiên
Chúa, một sự gặp gỡ trở thành hiệp thông ư muốn và tác động vào t́nh cảm.
Bấy giờ tôi học cách nh́n người khác không phải chỉ bằng con mắt và t́nh cảm
của riêng tôi, nhưng từ nhăn giới của Chúa Giêsu.” (240) Trong những người
tôi gặp, tôi nhận ra anh chị em là những người mà Chúa đă hi sinh sự sống
của Người khi yêu họ “cho đến cùng” (Ga 13, 1). Khi cử hành Bí tích Thánh
Thể, những cộng đồng của chúng ta phải càng ngày càng ư thức rằng hiến tế
của Chúa Kitô là cho mọi người, và như thế, Bí tích Thánh Thể thúc đẩy mọi
kẻ tin vào Người trở thành “bánh được bẻ ra” cho người khác, và nỗ lực để
xây dựng một thế giới công bằng hơn, huynh đệ hơn.
Suy niệm về phép lạ hoá
bánh và cá ra nhiều, chúng ta cần phải tâm niệm rằng, ngày nay Chúa Kitô vẫn
c̣n hối thúc các môn đệ của Người đích thân nhập cuộc: “Chính anh em hăy cho
họ ăn” (Mt 14, 16). Mỗi người chúng ta thật sự được kêu gọi cùng với Chúa
Giêsu trở thành tấm bánh được bẻ ra cho sự sống trần gian.
Những ràng buộc xă hội của mầu nhiệm Thánh Thể
89. Kết hiệp với Chúa Kitô trong Bí tích Thánh Thể cũng mang đến cho những
tương quan xă hội một sự mới mẻ: “‘huyền nhiệm’ Bí tích” này
mang một đặc
tính xă hội.” Thật vậy, “kết hiệp với Chúa Kitô cũng là sự liên kết với tất
cả những ai mà Người đă tự hiến cho, hoặc những ai sẽ trở nên những kẻ thuộc
về Người.” (214) Bí tích Thánh Thể là Bí tích của sự hiệp thông giữa các anh
chị em, những người để cho ḿnh được hoà giải trong Chúa Kitô, Đấng đă kết
hợp những người Do Thái và dân ngoại nên một dân tộc, khi phá bỏ bức tường
của sự thù hận ngăn cách họ (x. Ep 2, 14). Chỉ thường xuyên hướng về hoà
giải mới giúp chúng ta tham dự một cách xứng đáng vào Ḿnh và Máu Chúa Kitô
(Mt 5, 23- 24). (242) Khi tưởng niệm hiến tế của Chúa, Người củng cố t́nh
hiệp thông huynh đệ của chúng ta, và một cách đặc biệt, hối thúc những ai
c̣n đang xung đột, hăy mau hoà giải bằng cách mở rộng ḷng ra để đối thoại
và dấn thân phục vụ công lí. Chắc chắn, sự tái lập công lí, hoà giải và tha
thứ là những điều kiện cho việc xây dựng một nền hoà b́nh đích thực. (243)
Qua việc chu toàn trách nhiệm này một cách thiết thực, Bí tích Thánh Thể sẽ
trở nên trong đời sống điều mà bí tích này hàm chứa trong việc cử hành.
Như
tôi đă có dịp nhắc đến, Giáo Hội không có phận sự riêng phải hết sức có thể
dấn thân vào hoạt động chính trị để xây dựng một xă hội công bằng; tuy
nhiên, Giáo Hội không thể và không được đứng ngoài ŕa trong cuộc tranh đấu
cho công bằng. Giáo Hội “phải đóng vai tṛ của ḿnh bằng con đường lí luận
dựa theo lí trí và phải đánh thức sức mạnh tinh thần, mà nếu không có sức
mạnh đó th́ sự công bằng, vốn luôn đ̣i hỏi sự hi sinh, không thể được thực
thi và phát triển.” (244)
Trong khi thảo luận về trách nhiệm xă hội của mọi Kitô hữu, các Nghị Phụ ghi
nhận rằng sự tự hiến của Chúa Kitô là một mầu nhiệm giải phóng luôn thôi
thúc chúng ta. Bởi vậy
tôi thúc giục mọi tín hữu hăy trở thành những người
xây dựng hoà b́nh và công lí đích thực: “Mọi người tham dự vào Bí tích Thánh
Thể phải dấn thân xây dựng hoà b́nh trong thế giới chúng ta, một thế giới đă
bị bầm dập v́ bạo lực và chiến tranh, và đặc biệt ngày nay, do chủ nghĩa
khủng bố, tham nhũng kinh tế và nạn khai thác t́nh dục.” (245) Tất cả những
vấn nạn này đến lượt nó, lại khơi ra những vấn đề khác không kém nhiễu
nhương và nhẫn tâm. Chúng ta biết rằng không thể giải quyết những vấn đề này
một cách phiến diện. Chính bởi mầu nhiệm chúng ta cử hành mà chúng ta phải
tố giác những hoàn cảnh đi ngược lại với phẩm giá của con người, mà v́ họ,
Chúa Kitô đă đổ máu ḿnh ra để khẳng định giá trị cao vượt của mỗi con
người.
Lương thực sự thật và nhu cầu của con người
90. Chúng ta không thể cứ măi thụ động trước những tiến tŕnh toàn cầu hoá
vốn luôn tạo ra sự cách biệt giàu nghèo trên tầm mức quốc tế. Chúng ta phải
tố giác những kẻ hoang phí của cải trên trái đất, tạo ra những bất b́nh đẳng
đă thấu tới trời (x. Gc 5, 4). Chẳng hạn, không c̣n có thể câm lặng trước
“những h́nh ảnh nhức nhối về những xóm trại khổng lồ rải rác khắp nơi trên
thế giới tập trung người di cư và người tị nạn, những người đang sống trong
t́nh trạng tạm cư để thoát khỏi số phận tệ hại hơn, cần đến những nhu cầu
khẩn cấp. Những người này lại không phải là anh chị em của chúng ta hay sao?
Các con cái của họ sinh ra trong thế giới này không có cùng những hoài băo
chính đáng là được hưởng hạnh phúc như các trẻ em khác hay sao?” (246) Chúa
Giêsu, tấm bánh của sự sống vĩnh cửu thúc giục chúng ta quan tâm đến những
hoàn cảnh của t́nh trạng nghèo đói cùng cực, nơi một số đông nhân loại vẫn
c̣n đang sống: đây là những t́nh trạng mà trách nhiệm đương nhiên đ̣i mọi
người phải bức xúc đảm nhận. Quả thật, “trên căn bản những dữ kiện thống kê
hiện có, người ta có thể khẳng định rằng gần một nửa số tiền khổng lồ dành
cho việc vũ trang trên toàn cầu dư đủ để giải phóng những khối đông dân
nghèo thoát khỏi cảnh cùng cực. Điều này thách thức lương tâm nhân loại.
Đối
với những người
sống dưới mức nghèo khổ, là do hệ quả của những t́nh h́nh
liên quan đến những tương quan chính trị, kinh tế và văn hoá quốc tế hơn là
do những hoàn cảnh không kiểm soát được, sự dấn thân chung của chúng ta cho
sự thật phải mang lại cho họ một niềm hi vọng mới” (247).
Lương thực sự thật
đ̣i hỏi chúng ta phải tố giác những t́nh trạng vô nhân
đạo trong đó nhiều người phải chết đói do những bất công và bóc lột, và
lương thực ấy đem lại cho chúng ta sức mạnh mới và sự can đảm để không ngừng
phục vụ cho nền văn minh t́nh thương. Ngay từ lúc khai nguyên, các Kitô hữu
đă quan tâm chia sẻ của cải ḿnh (x. Cv 4, 42) và gíup đỡ những người nghèo
túng (x. Rm 15, 26). Những của bố thí thu góp trong các cộng đoàn phụng vụ
là một điều nhắc nhớ rất rơ về việc đó, những của từ thiện đó cũng thật cần
thiết để đáp ứng những nhu cầu hiện tại.
Những tổ chức bác ái của Giáo Hội,
đặc biệt Caritas đă thực hiện công tác cứu giúp những người thiếu thốn nghèo
túng ở những cấp độ khác nhau.
Được gợi hứng từ Thánh Thể, Bí tích t́nh yêu,
họ trở nên một sự diễn tả cụ thể t́nh yêu ấy; họ được tán dương và cổ vũ v́
dấn thân phục vụ sự liên đới trong thế giới của chúng ta.
Giáo huấn xă hội của Giáo Hội
91. Mầu nhiệm Thánh Thể khơi gợi và thúc đẩy chúng ta dấn thân một cách can
đảm vào trong thế giới của chúng ta để đem đến một sự đổi mới các tương
quan, sự đổi mới ấy đón nhận nguồn mạch bất tận từ ân huệ của Thiên Chúa.
Lời kinh mà chúng ta lặp lại trong mỗi Thánh Lễ: “Xin cho chúng con lương
thực hằng ngày,” buộc chúng ta phải làm mọi sự có thể, hợp tác với các tổ
chức quốc tế, quốc gia và tư nhân, để chấm dứt hoặc ít nhất làm giảm sự ô
nhục của nghèo đói và suy dinh dưỡng ảnh hưởng đến rất nhiều triệu người
trong thế giới chúng ta, nhất là tại những quốc gia đang phát triển. Một
cách đặc biệt, các Kitô hữu giáo dân được đào tạo tại trường học Thánh Thể,
được kêu gọi để đảm nhận những trách nhiệm chính trị và xă hội đặc biệt của
ḿnh. Để chu toàn các bổn phận đó, họ cần được chuẩn bị một cách thích hợp
thông qua việc giáo dục thực tiễn trong công bằng và bác ái. Bởi vậy,
Thượng
Hội Đồng Giám Mục nh́n nhận rằng các Giáo Phận và các cộng đồng Kitô giáo
cần phải dạy và đề xuất học thuyết xă hội của Giáo Hội. (248) Trong di sản
quư giá xuất phát từ truyền thống Giáo Hội lâu đời, chúng ta t́m thấy những
yếu tố của sự khôn ngoan cao vời hướng dẫn các Kitô hữu đối diện với những
vấn đề xă hội nóng bỏng hôm nay. Giáo huấn này, kết quả của toàn bộ lịch sử
của Giáo Hội, nổi bật do tính thực tế và sự dung hoà; nó có thể giúp tránh
được những sự thoả hiệp lẫm lẫn hoặc những điều không tưởng giả dối.
Thánh hoá trần gian và bảo vệ tạo vật
92. Sau cùng, muốn phát triển một nền linh đạo Thánh Thể thâm sâu, có thể
tác động một cách ư nghĩa vào cơ cấu xă hội, dân Kitô giáo khi cảm tạ Chúa
qua Bí tích Thánh Thể, phải ư thức rằng họ hành động như thế nhân danh toàn
thể tạo vật, để như thế, thánh hoá trần gian và nhiệt tâm làm việc cho mục
tiêu đó. (249) Chính Bí tích Thánh Thể chiếu soi lịch sử nhân loại và toàn
thể vũ trụ một cách mạnh mẽ. Trong cái nh́n Thánh Thể như vậy, ngày qua ngày
chúng ta học biết rằng mỗi biến cố Giáo Hội là một dấu chỉ qua đó Thiên Chúa
tỏ hiện chính Người và thách thức chúng ta. Như thế,
mô thức Thánh Thể của
đời sống có thể giúp chúng ta tạo dưỡng một sự thay đổi thật sự trong cách
tiếp cận lịch sử và tiếp cận thế giới. Chính
phụng vụ dạy chúng ta điều này,
khi vào lúc dâng tiến lễ vật, linh mục dâng lên Chúa một lời kinh tạ ơn, lời
khẩn cầu trên bánh và rượu “hoa màu ruộng đất”, “sản phẩm của cây nho” và
“lao công của con người.” Với những lời này, nghi thức không chỉ bao gồm
việc tiến dâng lên Thiên Chúa mọi nỗ lực và hoạt động của con người, mà c̣n
giúp chúng ta nh́n thế giới như là tạo vật của Thiên Chúa, đem lại cho chúng
ta những ǵ chúng ta cần cho sự sinh tồn. Thế giới không phải là một cái ǵ
trung tính, một sản phẩm thô để chúng ta cứ sử dụng theo như ḿnh thích.
Đúng hơn, nó là một phần của kế hoạch của Thiên Chúa, trong đó tất cả chúng
ta được kêu gọi để trở nên con trai và con gái trong Con duy nhất của Thiên
Chúa, là Chúa Giêsu Kitô (x. Ep 1, 4- 12). Sự quan tâm chính đáng về những
hiểm họa liên quan đến môi trường diễn ra tại rất nhiều nơi trên thế giới,
được gia tăng bởi niềm hi vọng Kitô giáo, thúc đẩy chúng ta hành động một
cách trách nhiệm để bảo vệ tạo vật. (250) Mối tương quan giữa Bí tích Thánh
Thể và vũ trụ giúp chúng ta nh́n sự duy nhất trong chương tŕnh của Thiên
Chúa, và hiểu rơ tương quan sâu xa giữa tạo vật và “tạo vật mới” đă được
khai mở trong sự phục sinh của Chúa Kitô, Ađam mới. Và ngay từ bây giờ chúng
ta tham dự vào tạo vật mới ấy nhờ Bí tích Thánh Tẩy (Cl 2, 12 tt). Đời sống
Kitô của chúng ta, được nuôi dưỡng bằng Thánh Thể, giúp chúng ta thoáng nh́n
về thế giới mới ấy- trời mới và đất mới- nơi thành Giêrusalem mới từ trời,
từ nơi Thiên Chúa mà xuống, “sẵn sàng như tân nương trang điểm để đón tân
lang” (Kh 21, 2).
Sự ích lợi của một cuốn sách toát yếu về Bí tích Thánh Thể
93. Vào lúc kết thúc những suy tư này, trong đó tôi đă trưng dẫn những đề
tài được nêu ra tại Thượng Hội Đồng Giám Mục,
tôi cũng muốn tiếp nhận lời đề
nghị mà các Nghị Phụ đă đưa ra như một phương thế để giúp các Kitô hữu tin,
cử hành và sống trọn vẹn hơn mầu nhiệm Thánh Thể. Những văn pḥng có trách
nhiệm liên quan của Giáo Triều Rôma sẽ ấn hành một cuốn
sách Toát Yếu, tập
hợp các bản văn từ Sách Giáo Lí Giáo Hội Công Giáo, các kinh nguyện, các lời
dẫn giải về Các Kinh Nguyện Thánh Thể trong Sách Lễ Rôma cùng những cách thế
tiện ích giúp hiểu rơ, cử hành và tôn sùng Bí tích của Bàn Thờ. Tôi hi vọng
rằng cuốn sách này sẽ giúp cho việc tưởng niệm Lễ Vượt Qua của Chúa càng
ngày càng trở nên nguồn mạch và đỉnh cao của đời sống và sứ mệnh của Giáo
Hội. Điều này sẽ thôi thúc mỗi người tín hữu xây dựng cuộc đời của ḿnh trở
thành một sự thờ phượng thiêng liêng đích thực.